Tội buôn lậu


Điều 188Tội buôn lậu

1. Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

h) Phạm tội 02 lần trở lên;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

a) Vật phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; hàng hóa trị giá dưới 200.000.000 đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, h và i khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm."

Tội buôn lậu

1. Các yếu tố cấu thành tội buôn lâu

a. Chủ thể thực hiện tội buôn lậu

Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm này không có gì đặc biệt so với các tội phạm khác, chỉ cần người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật là có thể trở thành chủ thể của tội phạm này. Chủ thể của loại tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự, người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không là chủ thể của tội này do không thuộc các tội mà chủ thể này phải chịu theo quy định tại Điều 12 BLHS 2015.

Điểm mới của BLHS 2015 so với BLHS 1999 đối với tội buôn lậu đó là đã xác định ngoài cá nhân thì pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể của tội phạm này. Theo BLHS 2015, pháp nhân thương mại có thể là chủ thể của hai nhóm tội: các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm mội trường. Những quốc gia trên thế giới xác định pháp nhân là chủ thể của tội phạm thì đều quy định pháp nhân có thể là chủ thể của tội buôn lậu. Ở Việt Nam hiện tượng pháp nhân phạm tội buôn lậu đã có, câu chuyện doanh nghiệp trong nước móc nối với cán bộ hải quan và doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng hình thức hàng hóa tạm nhập - tái xuất để buôn lậu đã không còn là chuyện hiếm gặp. Có thể nhắc đến trường hợp của Công ty thép Vạn Thành (TP. Hồ Chí Minh), do không chịu sự giám sát của cơ quan hải quan, công ty này đã chuyển tiêu thụ nội địa (không tái xuất) hơn 5.824 tấn hàng tạm nhập, tái xuất với giá trị hơn 3,9 triệu USD. Hay trường hợp một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối ở thành phố Hồ Chí Minh bị phát hiện tình trạng trốn tái xuất số dầu lên tới hơn 1.724 tấn và trốn thuế nhập khẩu, thuế VAT lên tới 3,9 tỷ đồng. Còn có thể nhắc đến những vụ việc nghiêm trọng khác như vụ: Công ty TNHH Bảo Cửu Phong (địa chỉ: Bình Hòa, thị xã Thuận An, Bình Dương) mở tờ khai nhập khẩu số 100217189000 ngày 27/11/2014 tại Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư, Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh. Hàng hóa khai báo là “lưới bảo vệ bằng thép để lót sản phẩm gỗ”; lô hàng đóng trong 3 container loại 40’; tờ khai được phân luồng xanh và đã được thông quan theo quy định. Kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa của cơ quan hải quan phát hiện, toàn bộ là sữa, gồm: 7.664 thùng thực phẩm bổ sung sữa Ensure hương vani (hiệu Abbott) và 200 thùng thực phẩm bổ sung sữa Glucerna hương vani (hiệu Abbott), xuất xứ Mỹ. Kết quả xác minh còn cho thấy, từ cuối tháng 7/2014 đến tháng 11/2014, công ty này đã mở trên 80 tờ khai nhập khẩu làm thủ tục qua các chi cục thuộc Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh. Trong đó có 80 tờ khai là mặt hàng “Lưới bảo vệ bằng thép để lót sản phẩm gỗ” …

Tóm lại, việc quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội buôn lậu là cần thiết và hợp lý, đảm bảo cơ sở pháp lý để xử lý hình sự những hành vi phạm tội trên của pháp nhân hiện đang diễn ra khá phổ biến trên thực tế.

b. Mặt khách quan của tội buôn lậu

- Hành vi phạm tội

Hành vi phạm tội là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại các đối tượng là hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý; Di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Người phạm tội buôn lậu chỉ có một hành vi khách quan là buôn bán trái phép qua biên giới, nhưng thủ đoạn lại rất đa dạng. Có thể nói, những thủ đoạn buôn lậu mà người phạm tội thực hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội cũng như các chính sách của Nhà nước đối với việc xuất nhập khẩu. Ngoài hành vi khách quan, đối với tội buôn lậu, nhà làm luật quy định một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm như: Giá trị hàng phạm pháp, số lượng hàng phạm pháp, địa điểm phạm tội. Nếu thiếu các dấu hiệu này thì dù một người có hành vi buôn bán trái phép hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, dá quý, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá hoặc hàng cấm cũng không phải là hành vi buôn lậu. Đó là trường hợp xác định bằng giá trị hàng hóa hoặc tính chất của hành vi khi hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc buôn lậu di vật, cổ vật thì bị xử lý về tội buôn lậu theo khoản 1 điều 188 BLHS.

Cụ thể gồm các hành vi sau đây:

Buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng rơi vào các trường hợp khác mà điều luật quy định, nhằm mục đích thu lời bất chính. Hành vi này được thực hiện thông qua các thủ đoạn như: sử dụng giấy tờ giả mạo để xuất, nhập hàng hóa, hoặc xuất, nhập hàng hóa không đúng với nội dung được phép..v..v..Trường hợp người vận chuyển thuê qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại mà biết rõ mục đích buôn bán kiếm lời của người thuê mình thì cũng sẽ bị xử lý về tội này với vai trò đồng phạm.

Hiện nay, vẫn còn những băn khoăn và vướng mắc trong việc phân định một cách rõ ràng hành vi nêu trên với hành vi trốn thuế. Trong bối cảnh điều luật đã loại trừ hàng cấm ra khỏi danh sách đối tượng của hành vi buôn lậu thì việc phân tách trên càng đặt ra câu hỏi hóc búa hơn. Nếu chúng ta đưa hành vi này nhập chung với hành vi trốn thuế và xử về tội trốn thuế (mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn) thì phạm vi áp dụng xử lý hình sự với tội buôn lậu trở nên rất hẹp, nhưng nếu để tồn tại song song cả hai tội thì có thể dẫn đến việc quy định bị thừa, một hành vi bị xử lý về nhiều tội. Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Giang (TPHCM), đã ký hợp đồng gia công hàng may mặc với khách hàng nước ngoài. Sau khi ký hợp đồng, Công ty Hoàng Giang đã nhập hơn 2,3 triệu m vải và 488.737 miếng vải cắt sẵn cùng các phụ liệu khác để… bán ra thị trường, trị giá nhập hơn 1,8 triệu USD. Theo Cục Hải quan TPHCM nếu số vải trên nhập về bán, phải nộp thuế hơn 22 tỉ đồng (trong đó 17,4 tỉ đồng thuế nhập khẩu và 4,4 tỉ đồng thuế GTGT). Vậy trong trường hợp này nên xử về cả hai tội danh hay chỉ xử về một tội: tội trốn thuế.

+ Buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Hành vi này luôn bị coi là tội phạm không phụ thuộc vào giá trị của di vật, cổ vật hay bảo vật quốc gia.

Dấu hiệu bắt buộc đối với hành vi buôn bán của tội buôn lậu theo Điều 188 BLHS 2015 đó là việc buôn bán phải “qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại”. Trước đây, dấu hiệu bắt buộc đối với tội danh này ở Điều 153 BLHS 1999 chỉ là “qua biên giới”. Sự thay đổi trong quy định của BLHS 2015 là hợp lý, giúp mở rộng cách hiểu về biên giới: không chỉ là ranh giới địa lý thông thường, mà còn là ranh giới về pháp lý. Khái niệm khu phi thuế quan được định nghĩa tại khoản 1 Điều 4 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016, cụ thể: “Khu phi thuế quan là khu vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, được thành lập theo quy định của pháp luật, có ranh giới địa lý xác định, ngăn cách với khu vực bên ngoài bằng hàng rào cứng, bảo đảm Điều kiện cho hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan của cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và phương tiện, hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.” Như vậy mặc dù về mặt địa lý, khu phi thuế quan nằm trong lãnh thổ Việt Nam, nhưng hoạt động buôn bán giữa khu vực  này với bên ngoài vẫn được xác định là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu; hay nói cách khác, về bản chất pháp lý đây cũng giống như hành vi buôn bán qua biên giới. Theo khoản 20 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính thì Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại – công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập và được hưởng các ưu đãi về thuế như khu phi thuế quan theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Điểm cần nói đến ở đây là hoạt động buôn bán giữa khu phi thuế quan và khu vực bên ngoài được xác định là hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhưng lại được ưu đãi đặc biệt về thuế.

Chính vì có những chính sách ưu đãi, cộng thêm với việc cơ chế quản lý đối với khu vực phi thuế quan còn thiếu chặt chẽ (các khu phi thuế quan ở nước ta hiện nay không có sự tách biệt với khu vực dân cư nên rất khó quản lý) nên hiện tượng buôn lậu và trốn thuế ở những khu vực này xảy ra rất phức tạp. Ví dụ, ở khu phi thuế quan Lao Bảo – Quảng Trị, theo thống kê sơ bộ, trong năm 2015 lượng hàng bách hóa tổng hợp được xuất đi trị giá gần 26 triệu USD. Một số mặt hàng như yến sào, sữa Ensure sau khi xuất khẩu sang nước khác để hưởng hoàn thuế giá trị gia tăng, đã được các đầu nậu thuê cư dân hai bên biên giới vận chuyển quay vòng về địa bàn nội địa. Từ đầu năm 2015 đến nay, số hàng hóa mỹ phẩm được nhập vào tại Khu kinh tế- thương mại đặc biệt Lao Bảo trên 60 tỷ đồng ( hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài vào và được tiêu thụ trong khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế cửa khẩu được không chịu thuế giá trị gia tăng). Trong khi dân cư tại Khu kinh tế- thương mại đặc biệt Lao Bảo chỉ trên 50 ngàn người…

Xuất phát từ thực tiễn như vậy, tác giả nhận thấy việc BLHS 2015 mở rộng theo hướng quy định những hành vi buôn bán trái phép hàng hóa từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại phạm tội buôn lậu là hợp lý và kịp thời, vừa tạo sự thống nhất với luật chuyên ngành, vừa tạo cơ sở pháp lý để xử lý hình sự những hành vi trên.

- Hậu quả và mối quan hệ nhân quả

Hậu quả của hành vi buôn lậu là những thiệt hại đến tính mạng, tài sản và những thiệt hại khác do hành vi buôn lậu gây ra. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, nếu hậu quả do hành vi buôn lậu gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt có mức cao hơn.

Khi xác định hậu quả do hành vi buôn lậu gây ra cần chú ý rằng, giá trị hàng hoá và số lượng hàng hoá quy định tại khoản 1 của điều luật như: Hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng thì không có nghĩa là đó là hậu quả của tội phạm, mà đó chỉ là vật phạm pháp.

Thiệt hại trực tiếp do hành vi buôn lậu gây ra là Nhà nước không kiểm soát được hàng hoá xuất nhập khẩu, gây thất thoát thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu hàng hoá.

c. Mặt chủ quan của tội buôn lậu

Người thực hiện hành vi buôn lậu là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới, thấy trước được hậu quả của của hành vi buôn bán trái phép qua biên giới và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Không có hành vi buôn lậu nào được thực hiện do cố ý gián tiếp.

Mục đích của người phạm tội là thụ lợi. Biểu hiện của mục đích thu lợi là người phạm tội tìm cách trốn thuế xuất nhập khẩu.

Vấn đề đặt ra là, mục đích của người phạm tội có phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này không ? Đây cũng là vấn đề mà thực tiễn xét xử còn nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, đặc trưng của tội buôn lậu không phải là buôn bán hàng hoá qua biên giới, mà là trốn thuế xuất, nhập khẩu (trốn thuế do Hải quan thu). Hành vi buôn bán trái phép xảy ra bất cứ ở đâu, nếu có trốn thuế xuất, nhập khẩu đều là buôn lậu. Quan điểm này, mới nghe có vẻ rất hợp lý vì nó loại bỏ những rắc rối về một số trường hợp phải xác định thế nào là qua biên giới, làm cho việc xác định hành vi buôn lậu đơn giản hơn, nhưng lại không lý giải được những trường hợp không trốn thuế xuất, nhập khẩu hoặc hàng phạm pháp là hàng cấm không có thuế xuất hoặc thuế nhập nhưng vẫn là buôn lậu.

d. Khách thể của tội buôn lậu

Hành vi buôn lậu xâm phạm đến khách thể là chế độ quản lý ngoại thương của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên khách thể của tội phạm này không phải là an ninh kinh tế mà là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý việc xuất, nhập khẩu hàng hoá, tiền tệ, kim khí đá quý, di vật, cổ vật, vật phẩm thuộc di tích lịch sử.Bên cạnh đó, hành vi buôn lậu cũng gây nguy hại đến an ninh biên giới của quốc gia.

Chính sách xuất, nhập khẩu của Nhà nước ta luôn thay đổi theo chính sách kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường, vì vậy việc xác định khách thể trực tiếp của tội buôn lậu có thể thay đổi tuỳ thuộc vào chính sách xuất nhập khẩu của Nhà nước.

Đối tượng của hành vi buôn lậu là hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý; Di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Khi xác định đối tượng tác động, nếu cần phải trưng cầu giám định của cơ quan chuyên môn thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định.

So với BLHS cũ, Điều 188 BLHS 2015 khi quy định về tội buôn lậu vẫn giữ nguyên đối tượng thứ nhất của hành vi: hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý.

·        Hàng hoá là vật phẩm được làm ra trong qua trình sản xuất, có giá trị và được đem trao đổi trong thị trường.

·       Tiền Việt Nam là tiền, ngân phiếu, trái phiếu và các loại thẻ tín dụng hoặc giấy tờ khác có giá trị thanh toán do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành.

·       Kim khí quý là các loại kim khí thuộc loại quý hiếm dạng tự nhiên hoặc các chế phẩm làm từ kim khi quý theo danh mục do Nhà nước Việt Nam ban hành như: Vàng, bạc, bạch kim…

·       Đá quý là các loại đá tự nhiên và các thành phẩm từ đá quí theo danh mục do Nhà nước Việt Nam ban hành như: Kim cương, Rubi, Saphia, Emôrot và những đá quý tự nhiên khác có giá trị tương đương.

Đối với loại đối tượng thứ hai, BLHS 2015 đã có sự quy định mới so với BLHS 1999. BLHS 1999 quy định “vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa” là đối tượng của hành vi buôn lậu; mặt khác ở khoản 3 Điều 4 của Luật Di sản văn hóa 2001 và khoản 3 Điều 4 của Luật Di sản văn hóa 2013 đều xác định: “Di tích lịch sử – văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”. Trong khi đó, Luật di sản văn hóa lại không có khái niệm về “vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa”. Xét về bản chất, đối tượng mà nhà làm luật hình sự muốn nói đến ở đây chính là các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Chính vì lí do này mà ở BLHS 2015 không còn quy định đối tượng của hành vi buôn lậu là vật phẩm thuộc di tích lịch sử  – văn hóa nữa mà cụ thể hóa thành các đối tượng: di vật, cổ vật; riêng đối tượng là bảo vật quốc gia được xác định là có giá trị cao hơn nên hành vi buôn lậu gắn với đối tượng này được đưa về cấu thành tăng nặng của điều luật. Theo Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2013 thì:

·        Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.

·        Cổ vật là hiện vật được truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.

·        Bảo vật quốc gia là hiện vật được truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.

Việc xác định cụ thể các đối tượng như trên tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật, và giúp tạo ra căn cứ cụ thể rõ ràng  cho nhà áp dụng pháp luật.

Đối tượng thứ ba của hành vi buôn lậu trong BLHS 1999 là “hàng cấm” đã bị loại bỏ khỏi danh sách các đối tượng của hành vi buôn lậu trong BLHS 2015. Như vậy đồng nghĩa với việc hành vi buôn bán hàng cấm qua biên giới sẽ không bị xử lý hình sự về tội buôn lậu nữa. Hành vi này sẽ bị xử lý về “tội buôn bán hàng cấm” theo quy định tại Điều 190 BLHS 2015, điều này thể hiện sự thay đổi trong chính sách hình sự đối với hành vi này. Đối tượng là các loại hàng cấm đặc biệt như: vũ khí quân dụng, ma túy…nếu được buôn bán trái phép qua biên giới sẽ bị xử lý về các tội phạm độc lập ở các chương khác nhau, và áp dụng tình tiết tặng nặng định khung “mua bán qua biên giới”. Vậy nên đối với các loại hàng cấm còn lại, nếu chủ thể có hành vi buôn bán trái phép qua biên giới thì xử lý về tội danh buôn bán hàng cấm, và áp dụng kèm theo tình tiết tăng nặng định khung gắn với yếu tố “qua biên giới”.

 

II. Hình phạt

- Theo quy định tại khoản 1 điều 188 BLHS 2015: Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái quy định của pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, tức là loại tội ít nghiêm trọng.

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật.

- Khoản 2 điều 188, quy định thêm 9 tình tiết tăng nặng đối với người thực hiện hành vi buôn lậu làm cơ sở tăng nặng trách nhiệm hình sự mà nếu rơi vào một trong các trường hợp đó, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

h) Phạm tội 02 lần trở lên;

i) Tái phạm nguy hiểm.

- Khoản 3 và khoản 4 lấy căn cứ về giá trị vật phạm pháp hoặc thu lợi bất chính để làm căn cứ tăng nặng TNHS với các mức hình phạt lần lượt là: phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15 năm đối với khoản 3 và phạt tù từ 12 năm đến 20 năm đối với khoản 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hình phạt đối với pháp nhân thương mại:

 Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng nếu Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; hàng hóa trị giá dưới 200.000.000 đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, h và i tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

- Ngoài ra pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Như vậy, mức hình phạt (cụ thể là hình phạt tiền) đối với pháp nhân thương mại cao phạm tội hơn gấp nhiều lần so mức hình phạt đối với cá nhân phạm tội.

III. Quy trình, thủ tục xử lý tội buôn lậu  

Bước 1: Cơ quan Công an có thẩm quyền tiếp nhận, thụ lý và giải quyết tin báo, đơn trình báo, đơn tố giác về hành vi phạm tội buôn lậu .

Bước 2: Khởi tố vụ án hình sự buôn lậu và khởi tố các bị can thực hiện hành vi phạm tội.

Bước 3: Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền tiến hành truy tố, ra cáo trạng về vụ án buôn lậu .

Bước 4: Tòa án nhân dân có thẩm quyền tiến hành xét xử vụ án buôn lậu theo quy định của pháp luật.

Bước 5: Thi hành bản án hình sự buôn lậu

 

IV. Luật sư có thể giúp gì được trong những trường hợp phạm tội buôn lậu ?

Thứ nhất, liên hệ với Luật sư hình sự hoặc người có kinh nghiệm giải quyết các vụ án hình sự để được tư vấn về phương án xử lý vụ việc. Thời điểm ban đầu của vụ án nếu được tư vấn hướng đi chính xác thì không chỉ giúp bạn giảm nhẹ tội danh mà còn đỡ bị mất tiền, tốn kém chi phí nhưng lại không được việc.

Thứ hai, đánh giá sơ bộ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội để ước lượng mức án mà mình có thể phải nhận. Đồng thời chuẩn bị các tình tiết giảm nhẹ để phục vụ cho việc xin giảm nhẹ hình phạt sau này.

Thứ ba, bạn có thể tự mình hoặc cùng với Luật sư tham gia làm việc, cung cấp lời khai cho cơ quan công an để giải quyết vụ án theo hướng có lợi nhất cho mình.

Thứ tư, tự mình hoặc cùng với Luật sư xây dựng phương án bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sao cho có lợi nhất. Các phương án có thể là đề nghị Tòa án tuyên vô tội; Đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung; Xin giảm nhẹ hình phạt (Xin hưởng án treo, cải tạo không giam giữ); Miễn trách nhiệm hình sự,..

Thứ năm: Lên kế hoạch thi hành án và tìm hiểu trước các quy định, phương án để được đại xá, đặc xá ra tù trước thời hạn theo bản án.

 

Trường hợp gặp phải các vướng mắc liên quan đến tội Cướp tài sản bạn có thể liên hệ trực tiếp số điện thoại đường dây nóng 24h/7 Tổng đài pháp luật hình sự 1900 6194 để được các Luật sư giỏi, giàu uy tín, kinh nghiệm hỗ trợ, tư vấn miễn phí.

Trân trọng!

 

══════════════════════════════════

ĐOÀN LUẬT SƯ TP HÀ NỘI - CÔNG TY LUẬT HÙNG BÁCH

Trụ sở chính: Số 36/126 Hào Nam, P.Ô Chợ Dừa, Quận Đống Đa, TP. Hà Nội

Trung tâm tư vấn: Số 89 Hoàng Ngân, P. Nhân Chính. Q. Thanh Xuân, Hà Nội.

Hotline: 1900 6194

Email: Luatsutoandan@gmail.com

Website: Luattoandan.com/Luathungbach.com

Luật Toàn Dân - Pháp luật dành cho mọi người dân!

http://luathungbach.com/dich-vu-ly-hon-nhanh-tron-goi.html

Chia sẻ bài viết


facebook.png twitter.png google-plus.png

Tìm kiếm









Dịch vụ nổi bật